Lịch sử châm cứu Việt Nam

Lịch sử châm cứu Việt Nam
Đánh giá bài viết

Châm cứu là phương pháp chữa bệnh được ra đời từ Trung Quốc, nó đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền y học của toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Châm cứu trong quá trình du nhập của mình đã để lại cả kho tàng những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, điều đó được gọi chung với cái tên lịch sử châm cứu Việt Nam. Bài viết hôm nay sẽ đi tìm hiểu vấn đề này.

Lịch sử châm cứu Việt Naml

Lịch sử phát triển châm cứu học:

Châm cứu là một bộ phận trong di sản y học phương Đông do con người sáng lập và phát triển trong quá trình đấu tranh lâu dài với bệnh tật. Châm cứu được xem như là một phần của y học Trung Hoa được xây dựng và phát triển từ kinh nghiệm dân gian: trong quá trình lao động của người thượng cổ, con người phát hiện khi bị những viên đá nhỏ va chạm thì thấy giảm nhẹ đau đớn của bệnh tật vốn có trong cơ thể.Trải qua lâu ngày, trong mọi người hình thành khái niệm dùng Phiếm thạch chữa bệnh. Trải qua hàng trăm ngàn năm, con người đã tích lũy được rất nhiều thực nghiệm và kinh nghiệm chữa bệnh lâm sàng.

Hiện nay khoa châm cứu đã được thế giới chú ý. Ở Pháp , Đức, Nhật, Đại Hàn, Trung Hoa… đều có thành lập các viện châm cứu, các y viện chuyên trị bệnh bằng khoa này, thu thập hàng ngàn luận án để tổng kết phổ biến kinh nghiệm và 3 năm có họp một lần, một tạp chí ra hàng tháng (R.I.A) được phát hành rộng rãi.

Bác sỹ châm cứu Nguyễn Tài Thu

Lịch sử châm cứu Việt Nam:

Theo một số ghi chép còn lại cho thấy châm cứu học ở Việt Nam đã được sử dụng sớm nhất ở châu Á và trên thế giới: nó được phát triển lần đầu vào đời Hùng Vương (287 – 257 trước C. N), tiếp đến là đời vua Thục An Dương Vương (257 – 207 trước C.N); và châm cứu phát triển rực rỡ nhất vào đời vua Ngô, Đinh, Lê, Lý (937 – 1224 sau C.N):

– Năm 1136 (sau C.N ) Minh Không Thiền sư (tục danh là Nguyễn Chí Thành ) đã dùng pháp ngữ nhà Phật và châm cứu chữa khỏi bệnh tính thần kinh cho vua Lý Thần Tông được phong là Lý Triều quốc Sư.

– Đời nhà Trần, Trâu Canh đã dùng châm cứu chữa bệnh cứu sống con của vua Trần Minh Tông là hoàng tử HẠO sau khi lên ngôi là Trần Dụ Tông mắc bệnh liệt dương và Trâu Canh đã dùng châm cứu chữa khỏi.

– Đời nhà Hồ (1401 – 1407 ) có y sư Nguyễn Đại Năng người xã Hiệp An, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương đã soạn cuốn sách “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca” bằng thơ Nôm để phổ biến rộng rãi phương pháp châm cứu trong nhân dân. Đặc biệt Nguyễn Đại Năng đã tìm ra một số huyệt mới chưa thấy ghi trong sách châm cứu của các nước trên thế giới.

– Đến đời Hậu Lê (1423 – 1789) có đại danh y Hải Thượng Lãn Ông soạn bộ Y Tông Tâm Lĩnh trong đó cũng có hướng dẫn chữa một số bệnh bằng châm cứu.

– Đời Tây Sơn dưới triều vua Quang Trung (1788 – 1802) nhà vua đã lệnh cho Thái y viện phát huy các hình thức chữa bệnh trong đó có ngành châm cứu.

– Đến đời Nguyễn (1802 – đến đầu thế kỹ 20) có Vũ Bình Phủ hiệu là Nam Dương Đình giỏi về châm cứu đã biên soạn bộ sách “Y thư lược sao” tổng hợp về lý luận và thực tiễn châm cứu thời bấy giờ. Đây là tác phẩm viết về châm cứu thứ hai của nước Việt Nam ta .

Năm 1885 thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, năm 1902 chúng mở trường đào tạo y sĩ và dược sỹ để phục vụ tầng lớp cai trị, từ đó nước ta có hai ngành Đông y và Tây y. Thực dân Pháp luôn tìm cách chèn ép y học cổ truyền trong đó có châm cứu, họ dần dần loại đông y ra khỏi tổ chức nhà nước, châm cứu từ đó mai một đi không phát triển nữa.

Từ sau cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam. Khoa châm cứu dần dần được cũng cố và phát triển rộng rãi. Ở miền Bắc ngành Đông y và châm cứu được phục hồi mạnh mẽ. Từ đó Hội Đông y Việt Nam rồi hội Châm Cứu Việt Nam và Viện Châm Cứu Việt Nam được thành lập cùng với bộ môn đông y trường đại học y khoa đã mở nhiều lớp để đào tạo thầy thuốc châm cứu phòng và chữa bệnh bằng châm cứu đang phát triển rộng rãi trên khắp nước ta. Đặc biệt có giáo sư bác sĩ Nguyễn Tài Thu đã áp dụng tài tình châm tê trong phẫu thuật.

Có thể nói châm cứu ở Việt Nam có những thời khắc thăng trầm trong lịch sử, tuy nhiên cho đến ngày nay nó vẫn luôn được kế thừa truyền thống và tiếp tục phát huy những cái mới. Cho đến hôm nay và mai sau nữa, tôi tin chắc rằng lịch sử châm cứu Việt Nam sẽ lại được tiếp tục ghi dấu ấn trong nền y học dân tộc.

Gửi bình luận