Tiền tiểu đường

Tiền tiểu đường
Đánh giá bài viết

Tiểu đường đang trở thành căn bệnh đại dịch của thế kỷ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống thậm chí đe dọa đến cả tính mạng của người bệnh. Vậy làm thế nào để phát hiện sớm và ngăn chăn hoặc giảm thiểu số người mắc phải căn bệnh này. Trong 4 loại tiểu đường: tiểu đường type 1, tiểu đường type 2, tiểu đường thai kỳ và một loại tiểu đường nữa chúng tôi muốn nhắc đến trong bài viết này chính là tiền tiểu đường một chứng bệnh rối dung nạp glucose lúc đói.

Hãy xem thêm: Tìm hiểu về bệnh tiểu đường

Tiền tiểu đường

Tiền tiểu đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ

Tiền tiểu đường là gì ?

Tiền tiểu đường hay còn gọi là tiền đái tháo đường được xem như là rối loạn glucose (đường) khi đói hay rối loạn dung nạp glucose. Hầu hết tất cả những người có sự tiến triển thành bệnh tiểu đường type 2 đều có tiền tiểu đường. Tiền tiểu đường được chẩn đoán khi lượng glucose (đường) trong máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức để chẩn đoán là bệnh tiểu đường. Lượng glucose bình thường trong máu khi đói (nhịn ăn ít nhất là 8 giờ) là từ 70 – 100 mg/dL; bệnh tiểu đường khi lượng glucose khi đói trong máu cao hơn 126 mg/dL. Khi lượng glucose khi đói trong máu từ 100 – 125 mg/dL thì bạn bị tiền tiểu đường.

Những yếu tố nguy cơ mắc tiền tiểu đường

– Những yếu tố nguy cơ gây tiền tiểu đường đã được biết đến nhiều như béo phì, tăng huyết áp, tuổi trên 45, tiền sử gia đình có tiền tiểu đường, tiền tiểu đường thai kỳ hay đẻ con trên 4kg. Khi có các yếu tố nguy cơ, chúng ta cần nghĩ đến tiền tiền tiểu đường. Việc phát hiện tiền tiểu đường sẽ tiến hành trên các đối tượng có nguy cơ, xác định qua các xét nghiệm thăm dò đường huyết.

– Trẻ em và thanh niên mới trưởng thành cũng có nguy cơ mắc tiền tiểu đường. Hiện nay chỉ có một bộ phận nhỏ các em hiểu biết về cách phòng tránh hoặc ngăn ngừa bệnh tiến triển lên thành tiền tiểu đường týp 2 ở trẻ em.

Làm thế nào để phát hiện sớm ra tiền tiểu đường

– Việc phát hiện tiền tiểu đường sẽ tiến hành trên các đối tượng có nguy cơ, xác định qua các xét nghiệm thăm dò đường huyết.

– Hiện nay có 2 cách thử tiêu chuẩn để phát hiện, chẩn đoán tiền tiểu đường. Với test thử huyết tương tĩnh mạch đường huyết đói (FPG), người đó nhịn đói qua đêm và lấy máu tĩnh mạch vào sáng hôm sau, trước khi ăn. Cho đến thời điểm hiện tại, đường huyết đói dưới 110 mg/ dL (6,1 mmol/L) được coi là bình thường và đường huyết đói nằm trong khoảng từ 110mg/dL (6,1 mmol/L) đến 125mg/dL (6,9 mmol/L) được coi là rối loạn đường huyết đói (IFG) hay tiền ĐTĐ. Cuối năm 2003, Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ khuyến cáo ngưỡng đường huyết của người bình thường giảm xuống còn 100mg/dL (5,6 mmol/L), do đó bây giờ đường huyết trong khoảng từ 100mg/dL đến 125mg/dL (hay từ 5,6 đến 6,9 mmol/L) được coi là tiền ĐTĐ. Người nào có đường huyết đói trên 125mg/dL (6,9mmol/L) được coi là tiền tiểu đường (cần phải làm lại xét nghiệm lần nữa vào một ngày khác để xác định chẩn đoán tiền tiểu đường).

– Với xét nghiệm rối loạn dung nạp glucose (OGTT), người ta làm xét nghiệm đường huyết đói buổi sáng sau một đêm không ăn và làm xét nghiệm lần nữa sau 2 giờ uống một dung dịch chứa đường đặc biệt. Ở người bình thường, đường huyết 2 giờ sau khi uống đường thường dưới 140mg/dL (7,8 mmol/L); nếu đường huyết nằm trong khoảng từ 140 đến 199 mg/dL (hay từ 7,8 đến 11,1 mmol/L) thì được coi là rối loạn dung nạp glucose hay tiền tiền tiểu đường. Đường huyết 2 giờ sau khi uống đường bằng hoặc cao hơn 200mg/dL (11,1 mmol/L) được coi là tiền tiểu đường (cũng tương tự như trên, cần làm lại xét nghiệm lần nữa vào một ngày khác để xác định chẩn đoán tiền tiểu đường).

Những biến chứng nguy hiểm của tiền tiểu đường

– Khoảng 8% bệnh nhân rối loạn dung nạp đường huyết bị biến chứng võng mạc (theo Chương trình Phòng chống bệnh ĐTĐ (thuộc Cơ quan về dịch vụ Sức khỏe và con người của Mỹ).

– Nhóm chứng (placebo) có huyết áp tăng (> 140/90 mmHg) và tiền sử rối loạn dung nạp đường 3 năm sẽ tăng nguy cơ bị các biến cố về tim mạch khoảng 5% trong vòng 4 năm (nghiên cứu STOP NIDDM).

– Nghiên cứu Honolulu về tim mạch (Honolulu Heart Study) tiến hành trong 23 năm cho thấy tăng đường huyết sau ăn thường đi kèm với tăng các ca đột tử. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, khoảng 50% bệnh nhân tiền tiểu đường có nguy cơ bị bệnh tim mạch hoặc đột quỵ.

– Trước khi mắc ĐTĐ tuýp 2, người bệnh thường trải qua giai đoạn rối loạn đường huyết lúc đói (IFG), hoặc rối loạn dung nạp glucose (IGT), gọi chung là tiền đái tháo đường. Mức đường huyết của người tiền đái tháo đường cao hơn bình thường, nhưng chưa đến mức chẩn đoán đái tháo đường.

– Tuy là giai đoạn đầu của ĐTĐ, nhưng TĐTĐ cũng có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là biến chứng tim mạch và đột quỵ.

– Người mắc tiền tiểu đường nếu không được can thiệp phù hợp và kịp thời thì hầu hết sẽ chuyển sang bệnh đái tháo đường thật sự. Khi mắc ĐTĐ người bệnh sẽ phải đối mặt với các biến chứng nguy hiểm như các bệnh về tim mạch, đột quỵ, mù lòa, suy thận, cắt cụt chi. Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời ngay từ giai đoạn tiền tiểu đường không những có thể làm chậm quá trình tiến triển thành đái tháo đường mà còn có thể ngăn ngừa căn bệnh được xem là 1 trong 4 đại dịch của thế giới hiện nay.

Cách phòng chống và điều trị tiền tiểu đường

Hãy xem thêm: Thuốc chữa tiểu đường

Tiền tiểu đường là một tình trạng bệnh lý có thể điều trị được. Nghiên cứu về phòng chống bệnh ĐTĐ cho thấy những người mắc tiền tiểu đường có thể ngăn ngừa việc tiến triển thành tiểu đường týp 2 bằng cách điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và tăng cường hoạt động thể lực.
Người dân cần được trang bị kiến thức về bệnh tiểu đường cũng như tiền tiểu đường, hiểu biết về các yếu tố nguy cơ để phát hiện sớm cũng như việc có lối sống lành mạnh.
Những người bị tiền tiền tiểu đường cũng cần được hiểu biết thêm về các vấn đề xảy ra đối với họ: chế độ luyện tập; chế độ ăn uống; chế độ dùng thuốc; khi bị ốm; khi đi du lịch; nguy cơ dễ bị các bệnh khác như lây nhiễm cúm/viêm phổi; thay đổi tâm lý (cáu giận hoặc trầm cảm).

Mục tiêu thay đổi hành vi lối sống được đặt lên hàng đầu vì nó an toàn và hiệu quả trong kiểm soát đường huyết và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Mục tiêu điều trị huyết áp và mỡ máu cũng giống như đối với người bệnh tiểu đường. Người mắc tiền tiểu đường nên giảm cân nặng từ 5 đến 10% và về lâu dài nên duy trì mức cân nặng này, sử dụng các chiến lược như tự theo dõi, đặt mục tiêu điều trị khả thi, từng bước một, kiểm soát các tác nhân kích thích.

Gửi bình luận